Toàn văn bài phát biểu của đồng chí Nguyễn Mạnh Hùng – TUV, Giám đốc Sở Công Thương tại Hội nghị Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết 37-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX (NQ37) về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2020

Ngày đăng: 05/08/2019 03:41
Lượt xem : 70

Ngày 23-7, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh, Tỉnh ủy Phú Thọ tổ chức Hội nghị Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết 37-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX (NQ37) về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2020. 

Tại Hội nghị, đồng chí Nguyễn Mạnh Hùng – TUV, Giám đốc Sở Công thương đã có bài phát biểu tham luận về “Một số nhiệm vụ, giải pháp phát triển Công nghiệp – Thương mại của tỉnh trong thời kỳ hội nhập – Liên kết vùng”

BBT Trang thông tin điện tử Sở Công thương trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu này:

 

“Kính thưa: ……………………………………………………………

Kính thưa các quý vị đại biểu khách quý!

Hôm nay, Đảng bộ tỉnh Phú Thọ tổ chức Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết 37-NQ/TW ngày 01/7/2004 của Bộ chính trị về phương hướng phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo quốc phòng an ninh vùng trung du và miền núi Bắc bộ.

Được sự đồng ý của BTC hội nghị cho phép tôi, thay mặt ngành Công Thương tham luận về một số nhiệm vụ, giải pháp phát triển Công nghiệp – Thương mại của tỉnh trong thời kỳ hội nhập – Liên kết vùng. Đầu tiên, cho phép tôi gửi tới toàn thể các quý vị đại biểu khách quý về dự hội nghị lời chào trân trọng, chúc các đồng chí mạnh khỏe, hạnh phúc. Chúc Hội nghị thành công tốt đẹp.

Kính thưa các đồng chí! Báo cáo tham luận xin được trình bày thành 2 phần.

PHẦN THỨ NHẤT

KHÁI QUÁT MỘT SỐ KẾT QUẢ CHỦ YẾU NGÀNH CÔNG THƯƠNG GIAI ĐOẠN 2004 – 2018.

 

Sau 15 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW và Kết luận số 26-của Bộ chính trị. Kinh tế - xã hội của tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực; hầu hết các chỉ tiêu đều đạt và vượt kế hoạch hằng năm và kế hoạch 5 năm (tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) bình quân giai đoạn 2004-2018 là tăng 8,77%/năm; Tính đến hết năm 2018 Quy mô nền kinh tế tăng 7 lần so với năm 2004, đứng trong tốp đầu các tỉnh trung du và miền núi Bắc bộ. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng 37,86%; dịch vụ 40,54%; giảm tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp còn 21,6%; GRDP bình quân đầu người tăng từ 6,3 triệu đồng (năm 2004) lên 40,8 triệu đồng /người/năm 2018, tăng 6,5 lần... Có thể khẳng định rằng: Sau 15 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số số 37-NQ/TW và Kết luận số 26-KL/TW, chúng ta đã đạt được những kết quả quan trọng, khá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực; trong có đóng góp đáng kể của ngành Công Thương.

Trong lĩnh vực Công nghiệp: Giai đoạn 2004-2018 các cơ chế chính sách của tỉnh đã phát huy tác dụng, tạo khâu đột phá trong huy động nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng then chốt, tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực công nghiệp - xây dựng có bước phát triển mạnh. Giá trị tăng thêm năm 2018 (theo giá hiện hành) tăng trên 8 lần so với năm 2004; Tốc độ tăng trưởng công nghiệp- xây dựng bình quân giai đoạn 2004 - 2018 đạt 11,47%; Chỉ số phát triển công nghiệp (IIP) tăng bình quân 9%/năm; Đến nay tỉnh ta đã hình thành hệ thống các Khu, cụm CN; bao gồm 7 Khu công nghiệp, trong đó có 04 khu công nghiệp được đầu tư xây dựng hạ tầng và đi vào hoạt động, thu hút được gần 200 dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh trong các khu công nghiệp, giải quyết việc làm cho trên 30.000 lao động.

Bên cạnh đó, trên địa bàn đã quy hoạch 26 CCN, với tổng diện tích 1.100 ha; trong đó có 20 cụm đã có quy hoạch chi tiết với tổng diện tích là: 889.9 ha; hiện tại: 15 CCN triển khai thực hiện đầu tư xây dựng hạ tầng, đi vào hoạt động với diện tích 640,2ha; 02 CCN đang đầu tư hạ tầng với diện tích gần 100ha, thu hút 114 dự án đầu tư thư cấp, giải quyết việc làm cho 21.000 lao động trên địa bàn 13/13 huyện, thành, thị của tỉnh. Đồng thời, với việc thu hút các dự án kinh doanh hạ tầng các khu, cụm công nghiệp; tỉnh đã tạo điều kiện thuận lợi thu hút các nhà đầu tư thứ cấp, ưu tiên tập trung trong lĩnh vực cơ khí lắp ráp, cơ khí nông nghiệp, điện, điện tử, công nghiệp phụ trợ, chế biến gỗ, sản xuất vật liệu xây dựng, dệt may cao cấp, đồ uống, các dự án nông nghiệp áp dụng công nghệ cao có quy mô lớn, gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm...

Được sự chỉ đạo sát sao của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh và Bộ Công thương, Ngành Công thương đã chủ động tham mưu cho UBND tỉnh và Bộ Công Thương phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực tỉnh Phú Thọ từng giai đoạn làm cơ sở để Tập đoàn điện lực Việt Nam và các cấp, các ngành đầu tư nguồn và lưới điện, đảm bảo việc cung cấp điện ổn định cho tỉnh Phú Thọ để phục vụ phát triển kinh tế xã hội. Năm 2005 trên địa bàn tỉnh Phú Thọ chỉ có 01 trạm biến áp 220kV và 05 trạm biến áp 110kV, đến nay hệ thống điện của tỉnh Phú Thọ được đầu tư khá đồng bộ tạo liên kết vùng với các tỉnh lân cận (Sơn La, Hòa Bình, Yên Bái, Vĩnh Phúc, Hà Nội),

Hiện tại tỉnh được cấp điện từ 05 nguồn khác nhau trong vùng góp phần chủ động trong việc cung cấp điện. Tính đến hết năm 2018 tỉnh Phú Thọ đã được đầu tư 01trạm biến áp 500kV, 02 trạm biến áp 220kV, 13 trạm biến áp 110kV, 23 trạm biến áp trung gian và 2.804 trạm biến áp phân phối. Điện lưới quốc gia đã được cấp đến 100% số xã trên địa bàn tỉnh, tỷ lệ hộ dân có điện trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đạt 99,5%.

Việc triển khai đầu tư, tăng cường liên kết lưới điện trong vùng đã đảm bảo cung cấp điện ổn định, đáp ứng nhu cầu cho phát triển kinh tế xã hội tạo điều kiện cho phát triển công nghiệp - thương mại - dịch vụ, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh trong thu hút đầu tư trên địa bàn tỉnh và hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế - xã hội mà đại hội tỉnh đảng bộ lần thứ XVIII đề ra

Về lĩnh vực Thương mại – Dịch vụ: Nhìn chung từ năm 2004 - 2018 cùng với sự chuyển biến tích cực về kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ, Thương mại - dịch vụ Phú Thọ cũng đạt được nhiều thành tựu cơ bản; góp phần đẩy mạnh giá trị xuất khẩu bình quân hàng năm trên địa bàn tăng trưởng trên 12,5%  (Năm 2004 chỉ đạt125,8 triệu USD năm 2018 tăng lên 1.330 triệu USD gấp 10,6 lần). Vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ đề ra đến năm 2020 là 1.300 triệu USD.

Với  chính sách cởi mở, thông thoáng, thủ tục hành chính nhanh gọn thuận lợi thông qua Trung tâm hành chính công của tỉnh, góp phần thu hút được nhiều Tập đoàn, doanh nghiệp lớn đã quan tâm, nghiên cứu đầu tư các dự án, công trình trên địa bàn, tiêu biểu như Tập đoàn Vingroup, Tập đoàn Mường Thanh, Tập đoàn FLC, Tập đoàn Trung Nam... Hoạt động thương mại và dịch vụ nội địa ngày càng mở rộng, đa dạng, phong phú. Hệ thống hạ tầng thương mại - dịch vụ trên địa bàn tỉnh phát triển tương đối đồng bộ như: Chợ, trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng tiện lợi. Đến năm 2018, số lượng chợ trên địa bàn tỉnh là 214 chợ/277 xã. Trong đó: 02 chợ hạng I, 13 chợ hạng II, 199 chợ hạng III. Ngoài ra, có 03 trung tâm thương mại, 15 siêu thị. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu tiêu dùng dịch vụ xã hội của tỉnh trong giai đoạn 2004 chỉ đạt 2.889,6 tỷ đồng, đến năm 2018 đạt 28.770 tỷ đồng (tăng gấp 10 lần) đạt và vượt mục tiêu đại hội tỉnh đảng bộ đề ra đến năm 2020.

Công tác xúc tiến thương mại và kết nối cung cầu trong thời gian qua đã được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo và được triển khai qua việc xây dựng đưa vào hoạt động sàn giao dịch điện tử của tỉnh. Tổ chức các hội chợ triển lãm, tổ chức các phiên chợ đưa hàng Việt về nông thôn, khu Công nghiệp; tổ chức cho các doanh nghiệp tham gia hội chợ các tỉnh và tham gia các hội nghị kết nối cung cầu trong và ngoài khu vực. Ký biên bản ghi nhớ hợp tác phát triển- thương mại giữa các tỉnh trong khu vực trung du miền núi phía Bắc với tỉnh Vân Nam Trung Quốc. Hợp tác phát triển Công nghiệp - Thương mại với Sở Công Thương Hà Nội hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trong việc kết nối đưa các sản phẩm có thế mạnh vào thị trường của nhau

Về công tác Hội nhập kinh tế quốc tế: Thời gian qua, dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh và Bộ Công Thương, sự phối hợp của Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể chính trị, công tác hội nhập quốc tế về kinh tế của tỉnh Phú Thọ đã trở thành việc làm thường xuyên của các cấp, các ngành trong tỉnh; tạo động lực quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ, góp phần nâng cao uy tín, vị thế của tỉnh trong vùng và cả nước.

Hàng năm, Ban Hội nhập kinh tế quốc tế đã tổ chức tốt việc tuyên truyền, thông tin kịp thời các Hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương mà Việt Nam tham gia đàm phán, ký kết có hiệu lực, việc thực thi các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế, cải cách thể chế, tái cơ cấu kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng bước đầu giúp các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh SX-KD thuận lợi hơn.... Việc triển khai công tác hội nhập khá đồng đều, tích cực trên các lĩnh vực, các sở, ngành, địa phương đã lồng ghép và triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ được giao thông qua Chương trình hành động, Kế hoạch hàng năm của UBND tỉnh về Hội nhập kinh tế quốc tế; Môi trường đầu tư kinh doanh được ghi nhận có sự cải thiện tích cực, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2018 tăng 3 bậc so với năm 2017( Phú Thọ xếp thứ 24/63 tỉnh, thành phố trong cả nước và đứng thứ 3 trong số 14 tỉnh miền núi phía Bắc); góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Tuy nhiên, Chúng ta cũng thẳng thắn nhìn nhận những tồn tại, hạn chế, sau 15 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW và Kết luận số 26- của Bộ chính trị, đó là: Chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp; Ngân sách dành cho đầu tư hạ tầng công nghiệp, thương mại – dịch vụ chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của ngành; Quy mô, tiềm lực các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất còn nhỏ, đầu tư thiếu đồng bộ, dẫn đến việc ứng dụng tiến bộ khoa học, đổi mới công nghệ chưa hiệu quả; Cơ chế, chính sách hợp tác, liên kết, khai thác tiềm năng vùng, địa phương, nhất là việc nghiên cứu, dự báo xu thế phát triển, nhu cầu thị trường còn nhiều hạn chế.

PHẦN THỨ HAI: MỘT SỐ NHIỆM VỤ,

GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM TRONG THỜI GIAN TỚI

Trước xu thế hội nhập mạnh mẽ, với 12 Hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương đã có hiệu lực; 04 Hiệp định đang khẩn trương hoàn thiện đi đến ký kết. Đứng trước tình hình diễn biến phức tạp trên thế giới, khu vực về địa chính trị, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung. Dự báo cạnh tranh của thị trường ngày càng khốc liệt. Ngành Công Thương đứng trước nhiều cơ hội và thách thức đặt ra. Để chủ động thích ứng Yêu cầu Ngành không ngừng đổi mới tư duy, nâng cao năng lực chất lượng cán bộ, đủ tầm để chủ động hơn trong tham mưu cho tỉnh, xây dựng chiến lược phát triển trung và dài hạn. Trong đó, đề xuất các giải pháp mang tính căn cơ, bền vững nhằm đáp ứng các yêu cầu, đòi hỏi của tình hình mới; đặc biệt là trong liên kết vùng và hội nhập quốc tế để tạo ra nguồn lực, tận dụng và sử dụng nguồn lực hiệu quả cao nhất. Để góp phần quan trọng hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế - xã hội mà Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ Phú Thọ khóa XVIII đề ra, ngành Công Thương đề xuất một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:

Một là: Phát huy sức mạnh tổng hợp, quyết tâm thực hiện nghiêm túc, thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội XVIII tỉnh đảng bộ đã đề ra; Thực hiện có hiệu quả các văn bản chỉ đạo của Trung ương và của tỉnh " Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính tập trung tháo gỡ khó khăn; cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia''.  Tập trung tham mưu, đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh

Hai là: Tập trung nguồn lực, đa dạng hóa các hình thức đầu tư; khuyến khích các nhà đầu tư lựa chọn các hình thức đầu tư phù hợp; Ưu tiên thu hút đầu tư vào lĩnh vực phát triển hạ tầng giao thông, năng lượng, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, trung tâm thương mại dịch vụ nhằm phát huy tiềm năng thế mạnh của tỉnh, tăng sự hấp dẫn, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào tỉnh.

Phát huy tiềm năng để phát triển, đa dạng, chất lượng và bền vững các loại hình dịch vụ hiện đại, tiện ích...đảm bảo tốc độ tăng trưởng cao, tương xứng với lợi thế của Tỉnh, xứng đáng là một trong những trung tâm dịch vụ phát triển của vùng Thủ đô và Trung du Miền núi Bắc Bộ; gắn khu du lịch trọng điểm quốc gia Đền Hùng, gắn với sản phẩm dịch vụ của Thành phố Việt Trì  (Trung tâm Lễ hội); Kết nối tiêu thụ sản phẩm hàng hóa cho các doanh nghiệp, HTX, hộ kinh doanh trên địa bàn tỉnh tại hệ thống siêu thị, logistis và hệ thống cửa hàng tiện lợi, chuỗi giá trị. Hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng thương hiệu, phát triển thương mại điện tử, đưa sản phẩm lên các sàn giao dịch thương mại điện tử của tỉnh và từng bước đưa các sản phẩm ra thị trường quốc tế  ( AmaZon, Alibaba)...

Ba là: Xây dựng phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh; Quan tâm hỗ trợ nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành các dự án đang triển khai đưa vào sản xuất, đưa sản phẩm mới ra thị trường; Khuyến khích các nhà đầu tư đổi mới công nghệ tiên tiến, công nghiệp sạch, đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao chất lượng sản phẩm tăng sức cạnh tranh trên thị trường; Đẩy mạnh thu hút các dự án công nghệ cao vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp tranh thủ các nguồn lực của Trung ương và địa phương đẩy mạnh công tác khuyến công; phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề trên địa bàn tỉnh

Bốn là: Nâng cao hiệu quả, đa dạng các hình thức tuyên truyền Hội nhập kinh tế quốc tế; tranh thủ cơ hội, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng thị trường; Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho phù hợp với nhu cầu của các nhà đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp – thương mại – dịch vụ. Chú trọng đào tạo nghiệp vụ nâng cao năng lực quản trị kinh doanh cho doanh nghiệp. Quan tâm những ngành nghề công nghệ mới, hiện đại; công nghiệp mũi nhọn ưu tiên của tỉnh và từng bước tiếp cận với trình độ chuẩn mực quốc tế,

Năm là: Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh; Đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính, phòng chống tham nhũng; Nêu cao trách nhiệm của người đứng đầu. Tăng cường quán triệt sâu, rộng trong toàn thể cán bộ, công chức, viên chức nâng cao đạo đức công vụ, chống sách nhiễu phiền hà đối với tổ chức cá nhân trong thực thi công vụ. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước trong toàn ngành nhằm hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nhiệm vụ đề ra. Tăng cường chỉ đạo, điều hành tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc thông qua đối thoại trực tiếp với doanh nghiệp, nhà đầu tư để kịp thời nắm bắt, giải quyết, tháo gỡ những khó khăn vướng mắc. Phối hợp với các sở, ngành liên quan tham mưu chính sách ưu đãi thu hút các nhà đầu tư, tập đoàn kinh tế trong và ngoài nước vào các ngành nghề, lĩnh vực mũi nhọn theo định hướng của tỉnh;

Trên đây là báo cáo tham luận của ngành công thương trước hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết 37-NQ/TW ngày 01/7/2004 của Bộ chính trị về phương hướng phát triển kinh tế xã hội và đảm bảo quốc phòng an ninh vùng trung du và miền núi Bắc bộ.

Một lần nữa, kính chúc các đồng chí đại biểu khách quý, cùng toàn thể các đồng chí dự hội nghị mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công.

Xin trân trọng cảm ơn”

Admin

Gửi mail

Tin liên quan